Mối quan hệ giữa kinh tế học và xã hội học của T.Parson và V.Pareto

Đây là bài viết tham dự Hội thảo Khoa học cán bộ trẻ Trường KHXH&NV Hà Nội năm 2006.

Đặt vấn đề

“Xã hội học kinh tế là lĩnh vực xã hội học chuyên nghiên cứu về quy luật, tính quy luật, thuộc tính và đặc điểm của sự nảy sinh, vận động và phát triển mối quan hệ giữa con người, xã hội và kinh tế”[1]. Đây là một ngành học mới trong hệ thống khoa học xã hội của Việt Nam, qua quá trình phát triển, ngành học này đã góp phần quan trọng trong việc xây dựng những định hướng phát triển kinh tế xã hội nước nhà.

Trong quá trình tự phát triển của ngành học ở Việt Nam đã có nhiều học giả quan tâm nghiên cứu lĩnh vực này. Đến nay đã có nhiều nghiên cứu xoay quanh những vấn đề cơ bản của xã hội học kinh tế như hệ thống kinh tế, cơ cấu kinh tế, biến đổi kinh tế, hành động kinh tế, vai trò của thị trường, vấn đề phân công lao động, cơ cấu xã hội nghề nghiệp…

Thời gian qua, các học giả đã bắt đầu tranh luận đến vấn đề tính cách và tư tưởng tạo nên sự tách biệt rõ ràng giữa kinh tế học và xã hội học, đáng chú ý là ở Mỹ[2]. Những đánh giá này tập trung đến mối quan hệ giữa hai sự kiện quan trọng ở Đại học Havard vào những năm 1930. Thứ nhất, việc thành lập khoa xã hội học năm 1931, sau nhiều thập kỷ môn học này được giảng dạy trong khoa Kinh tế học (đầu tiên là do E. Cumnings, sau này là Thomas Nixon Carver. Thứ hai, việc tổ chức các hội thảo của Lawrence Henderson giữa những năm 1932-1934 nhằm hướng đến nghiên cứu những tư tưởng xã hội học của V.Pareto. Tác giả xã hội học Mỹ được đánh giá là có nhiều ảnh hưởng nhất trong thế kỷ 20, T.Parson đã quá quen với những sự kiện này. Parson đã từng làm việc tại khoa Kinh tế Đại học Havard trong vòng hơn ba năm từ 1931, thời gian này tư tưởng xã hội học của ông chưa thật nổi bật. Ông chỉ thực sự nổi bật lên khi làm việc tại khoa Xã hội học và trở thành thành viên những cuộc bàn luận tư tưởng của Henderson đối với Chuyên luận xã hội học đại cương (1916) của V.Pareto (được dịch sang tiếng Pháp-1917).

Thời gian đó, Parson cũng đã tham gia vào nghiên cứu mối quan hệ giữa lý thuyết kinh tế và xã hội học trong các công trình nghiên cứu của Werner Sombat, M.Weber và Ared Mashall. Việc tham gia nghiên cứu như thế này cũng tạo nên những ý nghĩa quan trọng khi ông đã làm phù hợp  việc chuyển dịch từ nền khoa học chuyển dịch cao-kinh tế học sang lĩnh vực thấp hơn về xã hội học. Tác phẩm Chuyên luận xã hội học đại cương của Pareto rất có ích đối với  mục đích nghiên cứu: “Pareto đã trở thành một thuyết gia kinh tế xuất sắc, ông đã cố gắng tạo dựng được hệ thống dễ hiểu hơn về lý thuyết xã hội học[3]. Tiếp đó Parson đã tiến hành nghiên cứu nhiều về Pareto và đã dành 3 chương trong cuốn sách nổi tiếng “Cấu trúc của hành động xã hội” (1937) để bàn về quan điểm xã hội học của Pareto. Cuốn sách này cũng có những ảnh hưởng mạnh mẽ. Camic cũng có những đánh giá: “Chẳng có công trình xã hội học nào trong thời gian này có những ảnh hưởng rộng lớn và chẳng có những phát triển về lý luận trong chuyên ngành này qua gần 1/2 thế kỷ qua đã được đặt ra mà lại không có những ảnh hưởng từ tác phẩm này của Parson [4]. Theo Parson, Pareto đã giới hạn ngành kinh tế học với nghiên cứu về hành vi lô gíc hoặc hành vi hợp lý: “Hành động nào có thể biểu lộ về mặt kinh tế thì được xem là lô gíc và những thành tố khác  chịu trách nhiệm đối với sự sai lệch về tính hợp lý nội tại được xem như là bị bác bỏ về ý nghĩa kinh tế”[5]. Những thành tố phi lý và thành tố phi kinh tế là những nội dung phù hợp nghiên cứu của xã hội học phân tích. Cách lý giải như thế này về Pareto cũng được chấp nhận rộng rãi trong cả kinh tế học và xã hội học. Paul Samuelson (làm việc tại khoa Kinh tế học, Đại học Havard từ 1935 đến 1940) đã từng có đánh giá: “nhiều nhà kinh tế học trong hoạt động học thuật có thể tách biệt kinh tế học từ xã hội học dựa trên nền tảng của hành vi lô gíc và phi lô gíc”[6], còn có một số quan điểm khác nữa được Samuelson đánh giá về việc cần theo đuổi các tư tưởng của Pareto. Quan điểm này nhanh chóng được chấp nhận với những đánh giá sau:

Tiền đề cơ bản của Pareto chính là kinh tế học đi vào nghiên cứu  hành vi lô gíc còn xã hội học đi vào nghiên cứu hành vi phi lô gíc[7]

V.Pareto cũng cho rằng một cách thức tiến hành vấn đề này chính là việc tạo nên sự phân công lao động giữa các khía cạnh hợp lý và phi lý của đời sống xã hội[8].

Giống như Pareto, Parson đã  chấp nhận hành động hợp lý đối với phân tích kinh tế nhưng cũng cho rằng xã hội học xác định hàng loạt các vấn đề được kinh tế học mở ra điều đó cần quan tâm đến các yếu tố phi lý[9]

V. Pareto là người duy nhất có những tư tưởng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến 2 chuyên ngành này khi cho rằng kinh tế học là khoa học nghiên cứu hành vi hợp lý còn xã hội học đi vào nghiên cứu hành vi phi lý[10]

V.Pareto cũng cho rằng kinh tế học cần giải quyết với hành động lô gíc còn xã hội học đi vào nghiên cứu hành động phi lô gíc[11].

Gần đây có ba tác giả trên Tạp chí xã hội học và kinh tế học Mỹ cũng đưa ra ba đánh giá cơ bản về Pareto. Dưới góc độ xã hội học kinh tế, Milan Zafirovski và Bary Levine cho rằng: “Pareto đã mở rộng lĩnh vực xã hội học bao gồm cả hiện tượng kinh tế và phi kinh tế và cả hành động lô gíc-hợp lý và phi lô gíc[12]; còn Patrick Aspers đã đưa quan điểm này tiến xa hơn với việc đi vào đánh giá những ranh giới giữa kinh tế học và xã hội học, tác giả này đã đánh giá “Pareto hoà nhập những lợi ích và những mối quan tâm trong phân tích các hiện tượng kinh tế” qua đó đã làm tăng những vấn đề mà chúng ta xác định như là “xã hội học kinh tế nghiên cứu các hành động phi lô gíc xẩy ra và có tác động đến lĩnh vực kinh tế” đồng thời ông cũng thừa  nhận Pareto không sử dụng thuật ngữ xã hội học kinh tế một  cách cụ thể mà Aspers cho rằng thuật ngữ này sau đó được suy luân từ những nghiên cứu của Pareto. Nhà xã hội học người Ý này cho rằng “các vấn đề kinh tế không bị tách biệt từ các vấn đề của xã hội học, chúng được hoà trộn vào nhau và sự phân tích hoàn thiện hiện tượng kinh tế cũng phải đối mặt với vấn đề này [13]

Nếu Zafirovski, Levine và Aspers là đúng theo luận điểm của chúng ta, cần đánh giá Pareto như là nhà tiên phong, quan trọng trong lịch sử xã hội học kinh tế. Nhưng liệu chúng ta có chấp nhận được những luận điểm của Parson khi đánh giá về Pareto không? Thực tế cho thấy Parson đã áp dụng nhiều quan điểm của Pareto trong các công trình nghiên cứu của mình, tuy nhiên cũng có một số đánh giá sau: Thứ nhất, Parson cho rằng Pareto đã nhầm lẫn trong cách định nghĩa về xã hội học  với định nghĩa được đưa ra trong đoạn mở đầu của tác phẩm Chuyên luận xã hội học đại cương; Thứ hai, những đánh giá của Parson về sự phân biệt của Pareto về hành động lô gíc và phi lô gíc bao gồm cả việc quan tâm đến khía cạnh không được Pareto đề cập chính là quan điểm chủ quan và khách quan; Thứ ba, những đánh giá của Parson về kinh tế học với hành động lô gíc và xã hội học nghiên cứu về hành động phi lô gíc không được Pareto đưa ra. Vì chính Parson vẫn không thể đưa ra sự phân biệt rạch ròi giữa xã hội học và kinh tế học sau khi có bài giảng của mình ở Marshall vào năm 1953.

Quan niệm về xã hội học cuả Pareto

Parson đã có nhiều bài viết về Pareto vào giữa những năm 1930, nhưng những đánh giá đầy đủ nhất về Pareto chính là ở Cấu trúc của hành động xã hội.  ở đây Parson cho rằng Pareto đã thừa nhận hai cách tiếp cận xã hội học: “Pareto chỉ có một hình thức đề cập đến khoa học xã hội là xã hội học,  chính ông đã nhầm trong cách định nghĩa về ngành học này. Ông xem quan niệm này gồm có hai vấn đề cơ bản: khía cạnh thứ nhất, phân tích là sự phân tích các yếu tố phi lô gíc của hành động; khía cạnh thứ hai là sự tổng hợp, toàn bộ đánh giá về hành động cụ thể nói chung bao gồm các thành tố kinh tế. Rõ ràng, xã hội học theo Pareto là ngành học phải được xem xét theo ý nghĩa phân tích, một ngành học còn lại khi có quan tâm đến việc phân chia hành động dư lại[14].

Đối lập lại, với cách đánh giá của Parson cho rằng Pareto nhầm lẫn trong cách định nghĩa về xã hội học, cũng có những đánh giá như sau về quan điểm xã hội học của Pareto: “Xã hội loài người trở thành chủ đề của nhiều nhà nghiên cứu. Một số nhà nghiên cứu tạo nên những phân ngành khoa học như luật học, kinh tế chính trị, lịch sử tôn giáo… Những nhà khoa học khác lại không phân định được bằng những thuật ngữ cụ thể. Để tổng hợp chúng lại hướng đến nghiên cứu xã hội loài người nói chung, chúng ta cần đặt tên cho ngành học đó là xã hội học[15]

Như vậy, Pareto đã đưa ra quan niệm khá rõ ràng về xã hội học, ngành khoa học nghiên cứu về xã hội con người nói chung, đồng nhất với quan niệm của Parson về khía cạnh tổng hợp của xã hội học. Những nội dung khác trong Chuyên luận xã hội học đại cương cũng đã phản ánh được quan điểm của Pareto cho rằng xã hội học rộng hơn kinh tế học và hơn cả những chuyên ngành có cùng nhóm ngành; ví dụ “Kinh tế học là một phần nhỏ của xã hội học và kinh tế học thuần tuý lại là một phần nhỏ của kinh tế học.. kết quả là kinh tế học thuần tuý có được hình thức từ khía cạnh không quan trọng và hội nhập từ xã hội học, đó chỉ là một phần thôi

Nguồn nhận thức của Parson về xã hội học phân tích trong tư tưởng của Pareto xuất phát từ mô hình Chuyên luận xã hội học đại cươngđược đề cập sau như hình 1, mô hình đó được lý giải như sau:

Mô hình:  Lý thuyết về sự phân tích và tổng hợp của Pareto[16]


“Hãy coi O là một tình huống cụ thể. Bằng việc phân tích, chúng ta có thể phân biệt trong các yếu tố  c, e, g…. Yếu tố c giống với yếu tố a, b… đều được xác định cùng nhau dưới một lý thuyết cụ thể, dưới một nguyên tắc chung là p. Cũng theo cách thức đó, yếu tố e và các yếu tố giống với nó (d,f…) cũng có được một lý thuyết làq, và các yếu tố g, l, m, n … cũng có lý thuyết là R. Những lý thuyết này cũng được phát triển tách biệt, sau đó xác định được một tình huốngO là kết quả của nhiều lý thuyết được gắn với nhau. Sau quá trình phân tích là tổng hợp.

Hãy xem O là một lý thuyết của kinh tế chính trị. Một tình huống O hiện thân ra không phải chỉ là khía cạnh về kinh tế e mà còn về các khía cạnh khác nữa như cg … về đặc trưng xã hội học. Thật là sai lầm để kết luận rằng các thành tố xã hội học c, g… theo kinh tế học chính trị. Chỉ có một kết luận được vạch ra từ các yếu tố đó là lý thuyết về kinh tế đánh giá  e phải được bổ sung (chứ không phải thay thế) qua những lý thuyết khác vì những yếu tố c, g…[17]

Điểm lưu ý thứ nhất trong sơ đồ 1 chính là mục đích của Pareto không phải hướng đến xác định các lý thuyết phi kinh tế như P và  R mà còn bảo vệ giá trị của lý thuyết thuần kinh tế Q, mặc dù kết quả của lý thuyết này lại có thể khác nhiều so với tình huống đang đánh giá. Dự đoán cốt lõi về lý thuyết kinh tế cho rằng những giới hạn về tự do thương mại có thể ảnh hưởng xấu đến sự phát triển rõ ràng là không được nhiều học giả ủng hộ vào thời của Pareto, vì thời đó chính ông đã có đánh giá “chẳng ai hiểu được tại sao sự thịnh vượng của Anh quốc lại tăng dưới sự tự do thương mại, còn sự phát triển thịnh vượng của Đức lại được thực hiện dưới sự  bảo trợ[18]. Ông cho rằng những quan sát về vấn đề này không có nghĩa là các lý thuyết về kinh tế là sai lầm mà cần được nhiều lý thuyết khác nữa bổ trợ thêm vào. Cũng chính trong tác phẩm Bản thảo về kinh tế học chính trị (1906), Pareto cũng cho rằng “trong chính kinh tế học chính trị, các lý thuyết này về kinh tế thuần tuý hoặc kinh tế toán học đều cần được các lý thuyết khác về kinh tế ứng dụng bổ sung chứ không được thay thế[19]

Một vấn đề quan trọng hơn ở đây chính là những thành tố trong biểu đồ 1 đã được Pareto gán cho cái nhãn là xã hội học chứ không phải là các lý thuyết (P và R), các sự kiện (a, b, c và g, l, m, n). Điều này hoàn toàn đúng, đoạn trích dẫn bên trên mong muốn có được từ “những phân ngành thích ứng với luật học, kinh tế học chính trị, lịch sử chính trị, lịch sử tôn giáo…” cũng như các phân ngành khác được phân biệc qua những cái tên đặc biệt. Xã hội học lại không có trong danh sách các chuyên ngành đó, điều này không có gì đáng ngạc nhiên khi Tarascio cho rằng “trong thời kỳ của Pareto, với sự phân ngành cao về tâm lý học xã hội, khoa học chính trị, nhân học văn hoá và vật lý học  thì xã hội học không tồn tại[20]

Dĩ nhiên có sự mở rộng hợp lý các nghiên cứu của Pareto để qua đó Parson đã cho rằng giữa những chuyên ngành chưa có tên như vậy có là cần gộp và đặt cho cái tên xã hội học phân tích. Cũng thấy rằng những lý thuyết phi kinh tế như ở biểu đồ trên cần được phân loại theo các nhóm phân ngành mới trong xã hội học phân tích. Mặc dù vậy, trong tác phẩm Chuyên luận của Pareto không có đề cập đến những bước đi như thế này.

Hành động lô gíc và phi lô gíc

Việc phân chia hành động lô gíc và phi lô gíc là một trong những cống hiến quan trọng của Pareto, vấn đề này đã được ông đề cập trong chương 2 của Chuyên luận về xã hội học đại cương của mình. Theo Pareto, cái lô gíc trong hành vi con người cần được xem xét dưới hai góc độ: tính chủ quan – từ quan điểm của những người tham gia vào hoạt động đó và tính khách quan – từ quan điểm của những người quan sát. Điều này có thể được chứng minh thêm qua đoạn bình luận sau:

Từ quan điểm chủ quan, hầu như mọi hoạt động của con người đều là hành động lô gíc. Trong con mắt của các thuyền trưởng tàu buôn Hy Lạp hy sinh vì Poseidon và cùng chèo thuyền là có ý nghĩa lô gíc trong hoạt động hàng hải… Giả định rằng, chúng ta áp dụng thuật ngữ về hành động lô gíc đối với những hành động có kết hợp lô gíc về phương tiện và mục đích không phải chỉ từ quan điểm có sự tham gia của họ mà còn từ quan điểm của những người khác có tri thức hiểu biết khác thì những hành động đó lô gíc cả về chủ quan và khách quan. Còn những hành động khác được gọi là hành động phi lô gíc[21]  

Liệu Pareto đánh giá thế nào khi mà mọi người tự nhìn nhận hoạt động của mình là lô gíc trong khi những người khác tham gia vào những hành động đó lại không có tri thức khoa học. Điều này đã được Parson lý giải như sau (từ những quan điểm của Pareto từ đoạn văn trên):

… theo thuật ngữ của các quan điểm khách quan, mọi hoạt động đều là lô gíc. Việc phân chia các tiêu chí lô gíc và phi lô gíc chỉ có thể nhìn nhận ở quan điểm chủ quan và vấn đề này được đề cập theo hai cách: (a) hành động là lô gíc khi các hoạt động là gắn với mục đích của chúng từ quan điểm chủ quan cũng như quan điểm khách quan… và (b) mục đích chủ quan phải phù hợp với của mục đích khách quan[22]

Cả Pareto và Parson đều nhất trí quan điểm cho rằng hành động là lô gíc khi mà mục đích khách quan và mục đích chủ quan luôn phải thống nhất với nhau. Nhưng cũng có sự khác biệt khá quan trọng giữa hai học giả này: Với Pareto, từ quan điểm chủ quan, hầu hết mọi hành động đều là lô gíc; với Parson thì lại cho rằng, từ quan điểm khách quan, mọi hành động là lô gíc. Điều này cần xem lại ví dụ của Pareto về những người thuỷ thủ Hylạp thường tế thần như là một cách thức có được sự an toàn khi đi biển. Pareto đã đặt câu hỏi liệu rằng hành vi này là hợp lý về mặt chủ quan- với đánh giả của những người thuỷ thủ Hy Lạp. Câu trả lời là đúng (người thuỷ thủ có được niềm tin từ hoạt động cúng tế đó). Pareto có đánh giá đến hành vi đó từ quan điểm khoa học và kết luận rằng hành động của những người thủy thủ đó là phi lô gíc. Cách tiếp cận của Parson không giống như vậy, ông hướng đến đặt câu hỏi những niềm tin chủ quan của thuỷ thủ đó có lô gíc so với quan điểm của những người quan sát khách quan không.Điều đó là không, và do đó hành vi đó là phi lô gíc.

Pareto cho rằng con người đều có xu hướng làm hợp lý hoá hành vi của mình bằng những lý luận hoặc niềm tin mà họ xem là hợp lý về mặt chủ quan. Sự thay đổi của Parson đối với nội dung của Pareto đã trở nên quan trọng khi ông đã chỉ ra được xã hội học phân tích với các hành động phi lô gíc, vấn đề này cũng dễ dàng bị quên lãng khi mà những mục đích của các hành động này là phi lô gíc về mặt khách quan, còn hành động lô gíc thì lại đúng về mặt chủ quan (lý luận của Pareto). Do đó, có một vấn đề giữa xã hội học và tính hợp lý chủ quan được Pareto nhấn mạnh lại có thể bị bỏ qua trong cách phân tích của Parson.

Kinh tế học và xã hội học

Trong Từ điển bách khoa về khoa học xã hội, chúng ta có thể nhận thấy Parson có những cách đánh giá về V.Pareto: Những tư tưởng xã hội học của ông chỉ xoay quanh hành động lô gíc và phi lô gíc. Parson đã cho rằng hành động lô gíc được hình thành với hình thức hành động kinh tế trong ý thức, cũng như là hành động hợp lý với việc đề cập đến mục đích chủ quan. Những vấn đề phân tích chính trong xã hội học của Pareto cũng còn liên quan đến loại hình khác nữa. Việc chỉ ra được xã hội học tiến hành với hành động phi lô gíc còn kinh tế học thực hiện với những hành động lô gíc đã được Parson đề cập trong tác phẩm Cấu trúc của hành động xã hội: Hành động đáp ứng được tiêu chí lô gíc chính là việc lý thuyết kinh tế học thể hiện ra như là công vụ giải thích đủ đáp ứng. Cũng có những giả định cho rằng nghiên cứu các trường hợp bao gồm việc xuất phát từ những tiêu chí này hướng đến sự tách biệt một số vấn đề, ít ra cũng là một số vấn đề phi kinh tế rất quan trọng[23]

Pareto cũng trích dẫn được các thành tố lô gíc của hành động, để lại những thành tố phi lô gíc. Parson cũng nhận biết được một vài điểm mà chính Pareto đã không xem xét hành động trong các hệ thống về mặt phân tích nhưng lại cho rằng, các bước đi đó lại được hàm ý trong cách tiếp cận của Pareto. Đây chính là quan điểm của Pareto trong Chuyên luận xã hội học đại cương. Một lần nữa thấy rằng tư tưởng của Pareto là tinh tế hơn sự phân chia sắc sảo của Parson.

Pareto chỉ quan tâm đến “kinh tế học thuần tuý” (hoặc kinh tế học toán học hoặc kinh tế học chính trị) khi xem xét những giới hạn đến hành vi lô gíc. Trong tác phẩm “Bản thảo kinh tế học chính trị” của mình, Pareto đã định nghĩa kinh tế học chính trị là lĩnh vực nghiên cứu các hành động lô gíc, lặp đi lặp lại, qua đó con người hành động nhằm đáp ứng và thoả mãn nhu cầu. Cũng trong tác phẩm Chuyên luận về Xã hội học đại cương, Pareto đã nhìn nhận được vấn đề: “kinh tế học thuần tuý có những bước tiến lợi thế mà có thể phác hoạ ra được những suy luận từ những nguyên tắc thực nghiệm; và có đưa ra những áp dụng có giới hạn về lô gíc như là có thể đánh giá được những lý do trong hình thức toán học”[24]. Điều này không có nghĩa là Pareto xác định được thuật ngữ về kinh tế học ứng dụng hay xã hội học là có giới hạn đối với những hành vi phi lô gíc. Ngược lại, ông đã nhìn nhận xã hội học phức tạp hơn kinh tế học bởi vì “cùng với việc thực hiện với hành vi lô gíc mà được đặt ra trong kinh tế học, ai đó thường xuyên thực hiện hành vi phi lô gíc  lặp đi lặp lại thì sẽ có thêm với cách suy nghĩ lô gíc”. Điều này cũng đã được Aspers chỉ ra về ví dụ của tiền được đưa ra làm ví dụ cho sự phân biệt này: “Kinh tế học thuần tuý thường xác định chức năng của đồng tiền trong khía cạnh kinh tế của đời sống. Kinh tế học ứng dụng mô tả hệ thống tiền tệ trong hiện thực, trong quá khứ và trong quá trình chuyển đổi. Theo cách thức như vậy, chúng ta tiếp cận gần hơn đến những vấn đề cụ thể nhưng chúng ta không đạt được vấn đề đó… Tiền là công cụ trao đổi và được các nhà kinh tế học nghiên cứu. Nhưng nó cũng là công cụ quan trọng trong đánh thuế và qua đó mối quan hệ  trong nghiên cứu về tiền đã thuộc về nhiều ngành của xã hội học[25]. Đây chính là cách thức mà cách tiếp cận cơ bản của Parson đã thường tách vấn đề lô gíc của kinh tế học khỏi cái phi lô gíc của xã hội học. Pareto đã rất rõ ràng đối với sự phân chia đó. Nhiều nhà xã hội học kinh tế hiện đại vẫn còn quan tâm đến quan điểm chung của các nhà kinh tế học khi cho rằng các thành tố kinh tế có thể được tách ra khỏi các thành tố xã hội khác. Đối lập lại với những quan điểm của các nhà xã hội học và kinh tế học, Pareto đã phản đối lại những quan điểm như vậy. Điều này đã góp phần càng chứng minh được Pareto là nhân vật có ý nghĩa quan trọng đối với lịch sử ngành xã hội học kinh tế.


* ThS Trần Văn Kham, email: khamtv@vnu.edu.vn 

[1] Lê Ngọc Hùng, Xã hội học kinh tế, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999, tr. 6.

[2] Swedberg, Richard, 1990 “Kinh tế học và xã hội học: Xác định lại những giới hạn, những cuộc nói chuyện với các nhà xã hội học và kinh tế học”. Princeton: NXB Đại học Princeton, tr.13 (t.A).

[3] T.Parson, “Về xây dựng lý thuyết hệ thống xã hội: Lịch sử cá nhân” Những trận đồ bát quái, 99 (4):tr. 826-8.

[4] Charles Camic, “Lý luận cấu trúc sau 50 năm”, Tạp chí Xã hội học Mỹ, 95(1), tr.38-107 (t.A).

[5] T.Parson, Cấu trúc của hành động xã hội, Lần xuất bản thứ 2, Newyork, NXB Free, 1949, tr.265(t.A).

[6] P.Samuelson, Những nền tảng cho phân tích kinh tế; NXB Đại học Havard, 1947, tr.90(t.A).

[7] Richard Swedberg, Kinh tế học và xã hội học: Xác định lại những giới hạn, những cuộc nói chuyện với các nhà xã hội học và kinh tế học. Princeton: NXB Đại học Princeton, 1990, tr.11(t.A).

[8] Robert Holton, Kinh tế và xã hội, Rouledge, Luân Đôn, 1992, tr.14(t.A).

[9] J.Coleman và T. Fararo, Lý thuyết lựa chọn hợp lý: Những sự ủng hộ và phê phán, NXB Sage, 1992, tr.xvii(t.A).

[10] James Baron và Micheal Haman, Tác động của kinh tế học đối với xã hội học đương đại, Tạp chí nghiên cứu kinh tế, 32(3), tr.1111-46(t.A).

[11] Neil Smelser và Richard Swedberg; Luận điểm xã hội học về kinh tế, tr.1-26, trong Sổ tay xã hội học kinh tế của, NXB Đại học Princeton(t.A).

[12] Milan Zafirovski, Xã hội học kinh tế: Lịch sử và triển vọng-Đi vào nghiên cứu những đặc tính chung trong xã hội học và kinh tế học, Tạp chí xã hội học và kinh tế học Mỹ, 58(4); tr.583-627(t.A).

[13] Patric Aspers, Vượt qua ranh giới của kinh tế học và xã hội học, Tạp chí xã hội học và kinh tế học Mỹ, 60 (2) 2001; tr.519-45(t.A)

[14] T.Parson, Cấu trúc của hành động xã hội, Lần xuất bản thứ 2, Newyork, NXB Free, tr.766(t.A).

[15] V.Pareto, ý thức và xã hội (mind and society) bản dịch từ tiếng Pháp (chuyên luận xã hội học đại cương), Jonathan Cape, 1935, tr.3(t.A).

[16] V.Pareto, ý thức và xã hội (mind and society) bản dịch từ tiếng Pháp (chuyên luận xã hội học đại cương), Jonathan Cape, 1935, tr.19 (t.A).

[17] V.Pareto, ý thức và xã hội (mind and society) bản dịch từ tiếng Pháp (chuyên luận xã hội học đại cương), Jonathan Cape, 1935, tr.19-20(t.A)

[18] V.Pareto, ý thức và xã hội (mind and society) bản dịch từ tiếng Pháp (chuyên luận xã hội học đại cương), Jonathan Cape, 1935, tr.1409(t.A).

[19] V.Pareto, ý thức và xã hội (mind and society) bản dịch từ tiếng Pháp (chuyên luận xã hội học đại cương), Jonathan Cape, 1935, tr.20(t.A).

[20] Vincent Tarascio, Cách tiếp cận phương pháp luận của Pareto đối với kinh tế học: Nghiên cứu về lịch sử các khía cạnh khoa học về tư tưởng kinh tế học, NXB Đại học Bắc Califonia, 1968, tr.74 (t.A).

[21] V.Pareto, ý thức và xã hội (mind and society) bản dịch từ tiếng Pháp (chuyên luận xã hội học đại cương), Jonathan Cape, 1935, tr.77(t.A).

[22] T.Parson, Cấu trúc của hành động xã hội, Lần xuất bản thứ 2, Newyork, NXB Free, 1949, tr.190-91(t.A).

[23] T.Parson, Cấu trúc của hành động xã hội, Lần xuất bản thứ 2, Newyork, NXB Free, 1949, tr.186(t.A).

[24] V.Pareto, ý thức và xã hội (mind and society) bản dịch từ tiếng Pháp (chuyên luận xã hội học đại cương), Jonathan Cape, 1935, tr.491(t.A).

[25] V.Pareto, ý thức và xã hội (mind and society) bản dịch từ tiếng Pháp (chuyên luận xã hội học đại cương), Jonathan Cape, 1935, tr.1408(t.A).

About eagle081183

Passionate, Loyal
This entry was posted in Economics, Knowledge. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s