Chuỗi giá trị trong ngành vận chuyển container

Năm 2008 đuợc đánh giá là năm khá khó khăn cho ngành vận chuyển container quốc tế. Các hãng tàu lớn trên thế giới đã phải chuyển mục tiêu tăng trưởng và lợi nhuận sang mục tiêu “sinh tồn”, nghĩa là cố gắng tránh phải phá sản hoặc kinh doanh thu lỗ để rồi bị thâu tóm. Và một lần nữa, các nhà điều hành và chiến lược gia của các hãng tàu hàng đầu thế giới lại phải đánh giá và xem xét lại các ý tưởng, lợi thế cạnh tranh và vị thế cạnh tranh trong chiến lược phát triển của mình. Các nhà điều hành này thường phải dành nhiều thời gian để trả lời câu hỏi : “Trong dài hạn thì công ty có thể ‘kiếm được tiền’ trong ngành này hay không? Đâu là mảng thị trường phù hợp với công ty? Và đâu là khách hàng phù hợp với chiến lược công ty?” Công cụ phân tích chuỗi giá trị (value chain) sẽ một phần trả lời cho các nhà điều hành.

Container7
Chuỗi giá trị được hiểu là một loạt các chuyển đổi từ nguyên vật liệu (giai đoạn đầu – upstream) đến khi giao sản phẩm / dịch vụ hoàn chỉnh đến người tiêu dùng cuối cùng (giai đoạn cuối – downstream). Trong chuỗi giá trị, có sự tham gia của nhiều công ty và nhiều quốc gia với những chức năng khác nhau; một số cung cấp nguyên vật liệu, một số sản xuất sản phẩm cuối cùng, và một số chuyển giao sản phẩm này đến người tiêu dùng cuối cùng. Theo MergeGlobal thì ngành vận chuyển container có thể được chia thành 5 buớc tạo ra giá trị : (1) các hoạt động liên quan đến nhận hàng, lên kế hoạch vận chuyển và thuê/mua khoang tàu, (2) các hoạt động liên quan đến cung cấp container, (3) các hoạt động liên quan đến vận chuyển đường biển container, (4) các hoạt động liên quan đến sắp xếp hàng lên tàu và dỡ hàng xuống tàu và lưu trữ hàng tại bãi container, (5) các hoạt động liên quan đến giao hàng đến người tiêu dùng cuối cùng.

Phân khúc thứ nhất, trong chuỗi giá trị ngành vận chuyển liên quan đến các hoạt động nhận hàng, lên kế hoạch vận chuyển và thuê / mua khoang tàu. Trong giai đọan này các nhà cung cấp (thường là các NVOCC và các nhà vận chuyển container) ký kết hợp đồng vận chuyển với khách hàng chịu trách nhiệm để đưa hàng hóa (đã được đóng trong container) từ điểm A đến B cho khách hàng và ngược lại khách hàng đồng ý trả một khoản tiền cho dịch vụ này. Theo ước tính của MergeGlobal, giai đoạn này tạo ra khoảng 32 tỷ USD giá trị trong năm 2007 với tỷ suất lợi nhuận ước tính 50% – cao nhất so với các giai đoạn khác do vốn đầu tư tương đối thấp. Trên thực tế có thể thấy rằng các hãng giao nhận lớn như Kuehne&Nagel, palnapina, Schenker, DHL Global Forwarding…báo cáo tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận ở mức 30%.

Phân khúc thứ 2, trong chuỗi giá trị ngành vận chuyển liên quan đến các hoạt động cung cấp container. Phân khúc này bao gồm việc sở hữu, cho thuê và sửa chữa / bảo trì (Maintenance and repair) container và chasis. Hiện nay trên toàn cầu có khoảng 11 triệu container đang được sử dụng với khoảng 66% container loại 40-foot. Các nhà vận chuyển đường biển container có thể sở hữu container hoặc đi thuê ngoài. Giá trị do phân khúc này tạo ra năm 2007 được ước tính khoảng 8 tỷ USD với lợi nhuận trên vốn đầu tư vào khoảng 9%.

Phân khúc thứ 3, trong chuỗi giá trị ngành vận chuyển liên quan đến các hoạt động vận chuyển đường biển container. Cụ thể hơn thì đây là toàn bộ các hoạt động và nguồn lực cần thiết để vận hành tàu biển từ cảng đến cảng với các hoạt động chính như: (a) cung cấp tàu chuyên chở container, (b) thực hiện thường xuyên bảo trì tàu, (c) cung cấp thủy thủ và người lao động để vận hành tàu, (d) cung cấp xăng dầu và nguyên liệu để vận hành tàu, (e) thuê ngoài và sử dụng dịch vụ hoa tiêu tại cảng, (f) thanh toán phí lai dắt và hoa tiêu. Theo uớc tính của MergeGlobal thì giá trị do phân khúc này tạo ra khoảng 102 tỷ USD tuy nhiên tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư là thấp nhất phản ánh phân khúc này đòi hỏi lượng vốn đầu tư lớn. Giá trị tương đối được tạo ra từ vận chuyển đường biển container chỉ khoảng 3%, điều này có nghĩa rằng việc đầu tư 1 USD vào ngành này chỉ đem lại khoảng 0.03 USD. Nếu so với ngành giao nhận /NVOCC ở phân khúc thứ 1, với tỷ lệ ROCE (return on capital employed) là 50%, thì giá trị do ngành vận chuyển đường biển container tạo ra nhỏ hơn gần 16-17 lần. Và trên thực tế nhiều hãng tàu đang báo cáo lỗ, hòa vốn hoặc tỷ lệ tăng khoảng 3-4% trong năm 2007. Và điều này càng trở nên xấu hơn vào năm 2008 khi nền kinh tế toàn cầu trong tình trạng suy thoái. Các khách hàng ở Châu Âu và Bắc Mỹ đang dần dần thắt chặt hầu bao của mình và một trong những chi phí cần cắt giảm là những chi phí về vận chuyển bởi vì chúng chiếm khoảng 50% chi phí để di chuyển một container từ nhà xuất khẩu sang nhà nhập khẩu.

Phân khúc thứ 4, trong chuỗi giá trị ngành vận chuyển liên quan đến các hoạt động sắp xếp hàng lên tàu và dỡ hàng xuống tàu và lưu trữ hàng tại bãi container. Các hoạt động chính trong phân khúc này gồm : (a) cung cấp cầu tàu cho tàu (vessel berth), (b) xếp dỡ container lên/xuống tàu, (c) đưa container đến khu vực nhận hàng, (d) nâng container lên các phương tiện vận tải nội địa, (e) kiểm tra container ra vào cổng cảng. Theo MergeGlobal, năm 2007 phân khúc này tạo ra khoảng 35 tỷ USD với tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư là 25%. Một điểm đáng lưu ý trong phân khúc này chính là tốc độ tăng trưởng kép từ năm 1997-2007 là 11% – cao nhất so với các phân khúc còn lại. Điều này đã đuợc phản ánh rất rõ trên thực tế khi mà hầu hết các cảng biển toàn cầu hầu như hoạt động gần hết công suất thiết kế.

Phân khúc thứ 5, trong chuỗi giá trị ngành vận chuyển liên quan đến các hoạt động giao hàng đến người tiêu dùng cuối cùng. Phân khúc này bao gồm toàn bộ các hoạt động di chuyển container từ nhà xuất khẩu đến cảng biển xuất và từ cảng biển dỡ hàng về đến nhà nhập khẩu. Phân khúc này tạo ra giá trị khoảng 28 tỷ USD với tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư 34%.

Vậy trong chuỗi giá trị ngành vận chuyển container, vận chuyển đường biển container tạo ra giá trị lớn nhất tuy nhiên lại có tỷ suất lợi nhuận là nhỏ nhất so với các phân khúc còn lại. Các phân khúc như giao nhận hàng hóa và vận chuyển nội địa đang có mức tỷ suất lợi nhuận cao. Và đó là một bài toán chiến lược dành cho các nhà điều hành vận tải container. Liệu có nên mở rộng dịch vụ của mình ra các lĩnh vực giao nhận hàng hóa và vận chuyển nội địa không? Nếu mở rộng thì làm sao để cạnh tranh với các đối thủ đã có “tên tuổi”? Nếu mở rộng thì đâu là nhóm khách hàng và thị trường chính?

Container shipping industry value chain and segment definition

  Giao nhận hàng hóa

Thuê / mua khoang tàu

Cung cấp

Container

Vận chuyển

Đường biển

Xử lý

Hàng

Vận chuyển nội địa
Hoạt động chính -Tìm khách hàng

-Lộ trình vận chuyển

-Lưu khoang

-Dịch vụ khách hàng

-Thanh toán

-Theo dõi hàng

-Cho thuê container

-Vận hành tàu container

-Cho thuê container

-Vận hành tàu container

-Quản lý cảng biển

-Vận hành cảng biển

-Xử lý container

-Quản lý xe tải

-Quản lý vận chuyển đường sắt

-Xử lý container

Đối thủ cạnh tranh -Nhà vận chuyển container

-Nhà giao nhận/NVOOC

-Nhà vận chuyển container

-Nhà cho thuê container

-Nhà vận chuyển container

-Thuê ngoài vận hành

-Thuê container khô

-Thuê container lạnh

-Nhà vận chuyển container

-Thuê ngoài vận hành cảng biển

-Nhà vận chuyển đường sắt

-Nhà vận chuyển container đường bộ

-Nhà vận chuyển container đường biển

Doanh thu (tỷ đôla) $32 billion $8 billion $102 billion $35 billion $28 billion
Tốc độ tăng trưởng kép (1997-2007) 10% 11% 7% 11% 7%
Dự án ROCE 50% 9% 3% 25% 34%

 

About eagle081183

Passionate, Loyal
This entry was posted in Business Model, Economics. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s